Tài nguyên dạy học

Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Triết học (CĐ-ĐH).

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Trọng Sơn
    Ngày gửi: 14h:04' 23-03-2021
    Dung lượng: 194.5 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 1 người (Hoàng Trọng Sơn)
    Triết học là gì? Nguồn gốc, Vai trò & Các vấn đề cơ bản của Triết học, câu hỏi thường gặp trong Triết học
    Khái niệm về triết học
    Triết học là gì?
    Triết học: là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy. Triết học nghiên cứu về các câu hỏi chung và cơ bản về sự tồn tại, kiến thức, giá trị, lý trí, tâm trí và ngôn ngữ. Những câu hỏi như vậy thường được đặt ra là vấn đề cần nghiên cứu hoặc giải quyết. Phương pháp triết học bao gồm đặt câu hỏi, thảo luận phê bình, lập luận hợp lý và trình bày có hệ thống.
    Triết học ra đời khi nào?
    Về nguồn gốc, triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây từ khoảng thế kỷ VIII đến thế kỷ VI TCN, tại các quốc gia văn minh cổ đại như: Hy Lạp, Ấn Độ, Trung Quốc.

    Ở phương Tây, khái niệm triết học lần đầu tiên xuất hiện tại Hy Lạp với tên gọi φιλοσοφία (philosophia) có nghĩa là “"love of wisdom” - “tình yêu đối với sự thông thái” bởi nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại mang tên Pythagoras. Với người Hy Lạp, triết học mang tính định hướng đồng thời cũng nhấn mạnh khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học được bắt nguồn từ chữ triết và được hiểu là sự truy tìm bản chất của đối tượng, là trí tuệ, sự hiểu biết sâu sắc của con người. Còn tại Ấn Độ, darshanas (triết học) lại mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Nói tóm lại, ngay từ đầu, dù cho ở phương Đông hay phương Tây, triết học cũng đều là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người. Tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    Đối tượng nghiên cứu của Triết học

    Khái niệm đối tượng của triết học: Là những mối liên hệ chung nhất của sự vật, hiện thực khách quan, mối liên hệ giữa thế giới vật chất với những sự vật hiện tượng do con người tưởng tượng ra và được phản ánh trong các khái niệm, phạm trù, của triết học. Chẳng hạn như: đối tượng nghiên cứu của toán học được Ăngghen nhận định là những quan hệ về hình học không gian, về số lượng của sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan hay đối tượng nghiên cứu của hóa học là sự phân giải, hóa hợp các hợp chất vô cơ, hữu cơ, là các hình thức vận động hóa học… Đối tượng của triết học sẽ có nội dung khác nhau dựa theo những thay đổi của tình hình thực tiễn xã hội qua từng giai đoạn phát triển.

    Những quan niệm về đối tượng trong lịch sử:

    Thời kỳ cổ đại: Trong thời kỳ này, khối lượng tri thức của loài người về thế giới và về chính bản thân mình còn rất hạn chế. Tại Trung Quốc, tri thức triết học chủ yếu giải quyết các vấn đề về đạo đức, tôn giáo, chính trị - xã hội. Tất cả các quan điểm về con người, về xã hội ( Khổng giáo, Đạo giáo, Lão giáo) đều mang màu sắc triết học sâu sắc. Ở Ấn Độ, triết học hòa quyện với tôn giáo. Còn tại Hy Lạp cổ đại, triết học gắn liền với những hiểu biết ban đầu của con người về tự nhiên. Chưa có sự phân chia giữa tri thức triết học với tri thức của các khoa học chuyên ngành. Triết học bao hàm tất tri thức của tất cả các lĩnh vực. Vì vậy mới có quan niệm sai lầm "triết học là khoa học của mọi khoa học".
    Thời kỳ trung cổ: Trung cổ là thời kỳ thống trị của Đạo Thiên Chúa, quyền lực của giáo hội bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Triết học trong giai đoạn này chỉ có nhiệm vụ lý giải, chứng minh cho sự tồn tại của thượng đế, đức chúa trời và sự đúng đắn của các giáo điều trong kinh thánh. Trong khuôn khổ tôn giáo, triết học phát triển một cách chậm chạp, khó khăn. Đặc biệt là đối với tư tưởng triết học duy vật.
    Nửa sau thế kỷ XV - thế kỷ XVIII: Sự ra đời của các bộ môn khoa học chuyên ngành (khoa học thực nghiệm) phục vụ cho hoạt động sản xuất công nghiệp. Triết học lúc này gắn bó với khoa học tự nhiên, khoa học thực nghiệm. Đối tượng nghiên cứu của triết học là tìm ra bản chất của các sự vật, hiện tượng có khả năng thực nghiệm được. Đến thế kỷ XVII – XVIII, triết học duy vật phát triển mạnh mẽ. Đỉnh cao là chủ nghĩa duy vật Pháp với các đại biểu: Điđrô, ‘Henvêtiuýt; Hà Lan với đại biểu Xpinôda; Anh với các đại biểu: Ph. Bêcơn, T. Hốpxơ…
    Đầu thế kỷ XIX: Mâu thuẫn giai cấp trở nên gay gắt hơn bao giờ hết khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia Tây Âu như Anh, Pháp, Ý, Hà Lan… Đồng thời sự phát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng kéo theo sự phát triển của khoa học tự nhiên. Trước yêu cầu của sự phát triển khoa học tự nhiên và sự đòi hỏi của cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản triết học Mác đã ra đời. Đánh dấu bước ngoặt mới: chấm dứt quan niệm sai lầm về đối tượng nghiên cứu của triết học “triết học là khoa học của mọi khoa học” và tiếp tục giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa ý thức và vật chất trên lập trường duy vật cũng như những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.

    Nội dung của vấn đề cơ bản của triết học

    Triết học giải quyết rất nhiều vấn đề có liên quan với nhau. Trong đó, vấn đề quan trọng nhất được gọi là vấn đề cơ bản của triết học. Gọi là vấn đề cơ bản bởi dựa trên việc giải quyết các vấn đề này sẽ làm cơ sở để giải quyết các vấn đề còn lại của triết học. Nó bao gồm các vấn đề về mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy, giữa vật chất và ý thức.

    Vai trò của Triết học
    Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của Triết học
    Thế giới quan: Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm về thế giới và về vai trò của con người trong thế giới. Nó đóng vai trò là nhân tố định hướng cho quá trình hoạt động sống của con người. Từ thế giới quan đúng đắn, con người sẽ có khả năng nhận thức, quan sát, nhìn nhận mọi vấn đề trong thế giới xung quanh. Từ đó giúp con người định hướng thái độ và cách thức hoạt động sinh sống của mình.
    Phương pháp luận: Phương pháp luận (lý luận về phương pháp) là hệ thống những quan điểm chung nhất đóng vai trò xây dựng, lựa chọn vận dụng các phương pháp. Phương pháp luận chia thành nhiều cấp độ: phương pháp luận ngành, phương pháp luận chung và phương pháp luận chung nhất (phương pháp luận triết học). Phương pháp luận triết học đóng vai trò chỉ đạo, định hướng trong quá trình tìm kiếm, lựa chọn và vận dụng các phương pháp hợp lý, có hiệu quả tối đa để thực hiện hoạt động nhận thức và thực tiễn.

    Vai trò của Triết học trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay
    Trong nền kinh tế toàn cầu hóa, bên cạnh giải quyết những vấn đề “muôn thuở”, triết học còn giúp cho con người tìm ra lời giải đối với những vấn đề hoàn toàn mới, phát sinh trong quá trình toàn cầu hóa. Không chỉ giúp con người nhìn nhận đúng đắn về thế giới quan, nhờ vào triết học, con người còn có khả năng đánh giá
    những biến động đang diễn ra, gợi mở hướng giải quyết, “lối thoát” cho vấn đề mà con người đang gặp phải trong bối cảnh toàn cầu hóa. Nói tóm lại, dù là trong quá khứ hay ở kỷ nguyên toàn cầu hóa, triết học vẫn giữ nguyên vị thế của mình ở phạm vi một dân tộc và cả nhân loại.
    Các câu hỏi thường gặp
    Câu 1: Nội dung vấn đề cơ bản của Triết học? các cách giải quyết trong lịch sử? Ý nghĩa?
    *) Khái niệm:
    Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con ng về thế giới, về vị trí vai trò của con ng trg TG ấy.
    Vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, của ý thức và vật chất.
    Vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, của ý thức và vật chất là vấn đề cơ bản của triết học là vì: đó chính là nền tảng và là điểm xuất phát để giải quyết những vấn đề khác.
    *) Nội dung:
    Vấn đề cơ bản của triết học gồm 2 mặt:
    + Vật chất và ý thức thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?
    + Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?
    Mặt thứ 1(bản thể luận):
    + CNDV: vật chất có trước và quyết định ý thức và được thể hiện qua các hình thức sau:
    CNDV chất phác, ngây thơ: lửa, nước sinh ra mọi thứ.
    CNDV siêu hình, máy móc (thế kỷ 17-18) vật chất là nguyên tử, mang tính máy móc, siêu hình.
    CNDV biện chứng (Các mác, Ăng ghen, Lenin): vật chất là tất cả những gì tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức của con người, ý thức là sản phẩm của vật chất có tổ chức cao, là bộ não con người, là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan.
    + CNDT: ý thức là cái có trước và quyết định vật chất.
    CNDT chủ quan: mọi sinh vật, hiện tượng chỉ là phức hợp những cảm giác của cá nhân.
    CNDT khách quan: sự tồn tại vật chất là do ý thức ở bên ngoài con người.
    + Thuyết nhị nguyên luận (thế kỷ 17): không cái nào có trước cái nào, không cái nào quyết định cái nào, chúng tồn tại song song, ý thức tinh thần sinh ra thế giới vật chất nhưng chúng cùng thuộc vào thượng đế.
    Mặt thứ 2 (nhận thức luận): thông qua 2 hình thức:
    + Khả tri: -> con người có nhận thức được thế giới.
    -> phân biệt với CNDV: phản ánh thế giới vật chất vào óc con người.
    -> CNDT: tự nhận thức của tinh thần và tư duy.
    + Bất khả tri: phủ nhận khả năng nhận thức thế giới của con người.
    *) Ý nghĩa của việc giải quyết vấn đề cơ bản:
    Giúp ta phân biệt tri thức của triết học (nghiên cứu thế giới trong chỉnh thể) với các khoa học khác.
    Giúp phân biệt được các nhà triết học với các nhà tư tưởng trong lịch sử và phân biệt được với các trường phái triết học trong lịch sử.
    Là cơ sở để nghiên cứu những vấn đề còn lại của triết học, gồm: nội dung phép biện chứng, lý luận biện chứng.
    Từ đó, các khoa học cụ thể khác tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu thế giới.
    Câu 2: Định nghĩa vật chất của Lênin? Ý nghĩa của định nghĩa?
    *) Hoàn cảnh ra đời của định nghĩa:
    Xã hội tư bản cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20: CNTB chuyển sang CNĐQ dẫn đến 1 loạt trào lưu triết học mới ra đời như CN Canto mới (quan điểm bất khả tri), CN Tomat mới chống lại tư tưởng Becli, Hium, Makho (duy tâm chủ quan). Từ đó, CNDV có sự dao động và CNDT có cơ hội phát triển. Song, duy nhất chỉ có Lenin đã đứng ra bảo vệ triết học Các mác- Ăngghen.
    Sự phát triển của khoa học: những phát minh mới của khoa học tự nhiên đã giúp con người hiểu biết sâu sắc hơn.
    Những tiền đề trong qua hệ vật chất do Mac- Ăng ghen đề ra:
    Thừa nhận sự tồn tại khách quan của vật chất.
    Đối lập vật chất và ý thức để nghiên cứu vật chất.
    Chỉ ra những thuộc tính của vật chất: vận động là phương thức tồn tại của vật chất; không gia, thời gian là hình thức tồn tại của nó; đặc biệt nhấn mạnh tính trừu tượng của phạm trù vật chất là bao quát, rộng lớn.
    *) Phương pháp ĐN của Lênin:
    Đó là: Định nghĩa phạm trù vật chất trong quan hệ với ý thức, phạm trù đối lập với nó và trong quan hệ ấy vật chất là tính thứ 1, ý thức là tính thứ 2.
    *) Định nghĩa vật chất của Lenin (bằng phương pháp trên):
    Vật chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
    Phân tích định nghĩa:
    + Vật chất là phạm trù triết học: chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tân, không sinh ra, không mất đi, còn các đối tượng, các dạng vật chất khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giới hạn, nó sính ra và mất đi để chuyển hóa thành cái khác.
    + Thuộc tính khách quan: đây là thuộc tính trừu tượng của vật chất, đó là cái đang tồn tại độc lập với loài người và với cảm giác của con người. Tức là tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức, bất kể sự tồn tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa.
    + Về mặt lịch sử: vật chất là cái có trước và là cái quyết định.
    + Con người có khả năng nhận thức được thế giới: cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất.
    *) Ý nghĩa:
    Giải quyết 1 cách cơ bản, hài hòa vấn đề cơ bản của triết học
    + Vật chất và ý thức thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?
    + Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?
    Khắc phục, chống lại tất cả những quan điểm của CNDT cũ về phạm trù vật chất.
    Khắc phục, chống lại những quan điểm của CNDV cũ. Từ đó, hướng cho các ngành khoa học nghiên cứu sâu hơn về thế giới vật chất.
    Khắc phục, chống lại những sai lầm của bất khả tri.
    Giúp chúng ta xác định được vật chất được hiểu trong xã hội chính là tồn tại xã hội, quyết định ý thức xã hội.
    Khẳng định thế giới vật chất khách qua là vô cùng, vô tận, luôn vận động và phát triển.
    Câu 3:
    Phân tích nguồn gốc và bản chất của ý thức?
    *) Định nghĩa ý thức:
    Là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ não con người 1 cách năng động, sáng tạo, là sản phẩm của quá trình lịch sử xã hội con người.
    *) Nguồn gốc:
    Gồm 2 nguồn gốc: 1. tự nhiên; 2. nguồn gốc xã hội.
    Nguồn gốc tự nhiên:
    + Có thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người, không phụ thuộc vào ý chí của con người.
    + Nguồn gốc tự nhiên gồm: hiện thực khách quan và con người. Đây chính là hệ thống vật chất, sự tác động giữa 2 yếu tố này làm xuất hiện quá trình mới đó là phản ánh (mối liên hệ vật chất) – tức là phải có sự tương tác giữa con người với tự nhiên.
    + Cùng với sự tiến hóa của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của nó cũng phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, trong đó ý thức là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới vật chất. Quá trình phản ánh từ vật chất đến hình ảnh cảm tính chuyển sinh lý bộ não gọi là sáng tạo thành hình ảnh tinh thần được cải biến mang tính tích cực, chủ động dẫn đến cải biến tự nhiên.
    + Ý thức là một thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao của bộ não con người, là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não con người. Theo đó, có các hình thức phản ánh sau:
    Phản ánh vật lý: là hình thức đơn giản nhất được thực hiện do sự tác động qua lại giữa các sự vật, hiện tượng hoặc hệ thống vật chất, diễn ra thông qua sự biến đổi cơ, lý, hóa, biểu hiện: thay đổi vị trí, biến dạng,... Đây là quá trình biến đổi chưa có chọn lọc.
    Phản ánh sinh học: -> Tính kích thích: có ở động vật- thực vật bậc thấp, là quá trình chon lọc của cơ thể ĐV – TV trước tác động của môi trường đến nó.
    -> Tính cảm ứng: có ở động vật bậc cao có hệ thần kinh TW. Đây là quá trình phản ứng trở lại của cơ thể ĐV trước tác động của môi trường lên nó trong quá trình đã xuất hiện phản xạ không điều kiện và cảm
    giác.
    Phản ánh tâm lý động vật: gắn liền với phản xạ có điều kiện và sự kiện của tri giác, biểu tượng, phản ánh tâm lý động vật chưa phải là ý thức, nó mới chỉ mang tính chất bản năng do nhu cầu sinh lý trực tiếp của cơ thể và những quy luật sinh học chi phối và phản ánh chuyển thành phản ánh ý thức con người trong những điều kiện nhất định như: tự nhiên (thế giới khách quan, bộ não,...), xã hội (lao động, ngôn ngữ,...).
    Ý thức của con người: là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới vật chất nó diễn ra dưới tác động của hiện thực khách quan (sự vật- hiện tượng) lên các giác quan của con người và do hệ thần kinh TW cùng với các phản xạ có và không có điều kiện mà con người tạo ra được hình ảnh của sự vật trong bộ não, tức là hoạt động tư duy nhờ đó mang tính sáng tạo, tích cực, chủ động.
    - Nguồn gốc xã hội:
    + Lao động:
    Khái niệm: Là phương thức hoạt động và sinh sống của con người mà trong quá trình đó con người tác động vào thế giới tự nhiên, con người tự tách mình ra khỏi động vật. Nói cách khác, loài vật chỉ sống dựa vào tự nhiên còn con người không chỉ có thế mà còn cải tạo tự nhiên, đáp ứng nhu cầu sống của mình.
    Vai trò của lao động:
    -> Lao động là hoạt động đặc thù của con người, làm cho con người khác với tất cả động vật khác:
    Con người cải tiến và chế tạo công cụ lao động mới phù hợp với hoạt động thực tiễn tạo năng suất lao động cao.
    Là hoạt động có mục đích- tác động vào thế giới vật chất khách quan làm biến đổi thế giới nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của mình.
    Trong quá trình lao động bộ não người được phát triển và ngày càng hoàn thiện, làm cho khả năng tư duy trừu
    tượng, trí thức trí tuệ ngày càng phát triển.
    Con người tách ra khỏi thế giới động vật: Con người chuyển từ phương thức hành động thuần túy động vật để có hành động đặc trưng, cùng với việc giải quyết đôi tay con người hình thành những thao tác tinh xảo và khéo léo.
    Con người chuyển từ phương thức sinh sống thuần túy động vật sang sinh sống đặc trưng cùng với việc phát hiện ra
    lửa để cải tiến phương thức sản xuất của mình cho phù hợp.
    + Ngôn ngữ:
    Là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tưởng tượng theo đó, với tư cách là phương tiện chuyển tải thông tin phản ánh 1 cách khái quát sự vật, tính chất, kinh nghiệm thực tiễn và trao đổi chúng giữa các thế hệ.
    -> Như vậy, lao động và ngôn ngữ là 2 kích thích chủ yếu làm cho phản ánh tâm lý động vật trở thành phản ánh ý
    thức của con người.
    *) Bản chất của ý thức:
    Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất có nghĩa là nội dung của ý thức khách quan quy định, là hình ảnh chủ quan, tinh thần chứ không phải hình ảnh vật lý.
    Ý thức có tính năng động, cách mạng và sáng tạo; trong đó quá trình cải biến hình ảnh trong tư duy là quá trình sáng tạo của ý thức, đó là sự sáng tạo của quá trình tuân theo các quy luật của tư duy rất phong phú nhưng vượt qua
    giới hạn của sự phản ánh.
    Ý thức mang tính chủ động, tích cực: là quá trình cái tinh thần được cải biến để cải biến tự nhiên thông qua hoạt động tích cực của chủ thể đã mang tích chủ động của ý thức bao giờ cũng dựa trên hoạt động của thực tiễn.
    Ý thức mang tính xã hội: ý thức không phải là 1 hiện tượng ngẫu nhiên, thuần túy mà là hiện tượng xã hội, nó bắt
    nguồn từ lịch sử xã hội và phản ánh hiện thực khách quan. Theo đó, ý thức là ý thức của con người và xã hội; nếu con người, xã hội mất đi, ý thức không còn nữa- điều này cũng có nghĩa là ý thức ra đời, tồn tại và duy trì trong hoạt động xã hội
    Kết cấu của ý thức:
    * Phân theo các yếu tố hợp thành:(03): Tri thức; tình cảm; Ý chí.
    Tri thức: là kết quả của quá trình nhận thức của con người về thế giới.
    Tình cảm: là sự cảm động, xúc cảm của mỗi người về thế giới, xã hội và bản thân mình.
    Ý chí: Là sự biểu hiện sức mạnh của bản thân mỗi con người nhằm vượt qua những cản trở trong quá trình thực hiện mục đích của mình
    * Kết cấu theo chiều sâu nội tâm: Tự ý thức; tiềm thức; vô thức.
    Tự ý thức: là ý thức của mỗi người về bản thân mình.
    Tiềm thức: là những tri thức mà chủ thể có từ trước, trở thành bản năng và nằm trong tầng sâu của ý thức. Hoạt động do tiềm thức chỉ đạo ngoài sự kiểm soát của chủ thể. Nhưng liên quan trực tiếp đến hoạt động tâp lý dưới sự kiểm soát của chủ thế.
    Vô thức: là tri thức ở chiều sâu có thể chỉ đạo hành vi của chủ thể mà chủ thể không có tính toán, kiểm soát (ham muốn bản năng, lỡ lời, bị thôi miên, trực giác, mặc cảm...)

    *) Ý nghĩa:
    Ý thức chỉ là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan cần chống bệnh chủ quan duy ý chí.
    Ý thức là sự phản ánh tự giác, sáng tạo hiện thực, nếu cần chống tư tưởng thụ động và chủ nghĩa giác điều xa vời thực tế.
    Câu 4:
    Phân tích mối quan hệ giữa VC và YT? Ý nghĩa phương pháp luận?
    Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí vai trò của con người trong thế giới ấy.
    Vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, của ý thức và vật chất.
    Vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, của ý thức và vật chất là vấn đề cơ bản của triết học là vì: đó chính là nền tảng và là điểm xuất phát để giải quyết những vấn đề khác.
    Vấn đề cơ bản của triết học gồm 2 mặt:
    + Vật chất và ý thức thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?
    + Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?
    Mặt thứ 1 (bản thể luận):
    + CNDV: vật chất có trước và quyết định ý thức và được thể hiện qua các hình thức sau:
    . CNDV chất phác, ngây thơ: lửa, nước sinh ra mọi thứ.
    . CNDV siêu hình, máy móc (thế kỷ 17-18) vật chất là nguyên tử, máy móc.
    . CNDV biện chứng (Các mác, Ăng ghen, Lenin): vật chất là tất cả những gì tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức của con người, ý thức là sản phẩm của vật chất có tổ chức cao, là bộ não con người, là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan.
    + CNDT: ý thức là cái có trước và quyết định vật chất.
    . CNDT chủ quan: mọi sinh vật, hiện tượng chỉ là phức hợp những cảm giác của cá nhân.
    . CNDT khách quan: sự tồn tại vật chất là do ý thức ở bên ngoài con người.
    + Thuyết nhị nguyên luận (thế kỷ 17): không cái nào có trước cái nào, không cái nào quyết định cái nào, chúng tồn tại song song, ý thức tinh thần sinh ra thế giới vật chất nhưng chúng cùng thuộc vào thượng đế.
    Mặt thứ 2 (nhận thức luận): thông qua 2 hình thức:
    + Khả tri: -> con người có nhận thức được thế giới.
    -> phân biệt với CNDV: phản ánh thế giới vật chất vào óc con người.
    -> CNDT: tự nhận thức của tinh thần và tư duy.
    + Bất khả tri: phủ nhận khả năng nhận thức thế giới của con người.
    Vật chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
    YT Là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ não con người 1 cách năng động, sáng tạo, là sản phẩm của quá
    trình lịch sử xã hội con người.
    - Mối quan hệ giữa VC và YT:
    + VC quyết định YT: VC có trước YT có sau, VC sinh ra YT, YT là chức năng của óc người; một dạng VC có t/c cao nhất là TGVC. VC quyết định nội dung của YT; đời sống VC quyết định đ/s tinh thần. YT là sự phản ánh TG VC vào óc ng. Thế giới VC là ng/gốc khách quan của YT.
    + Ý thức tác động trở lại vật chất: YT do VC sinh ra và quyết định, song sau khi ra đời, YT có tính độc lập tương đối
    nên có sự tác động trở lại to lớn đvới VC thông qua hđ thực tiễn của con ng. YT của con ng có tác động tích cực làm biến đổi hiện thực, VC k/q theo nhu cầu của mình. QH giữa VC và YT không phải là qh 1 chiều mà là qh tác động qua lại. Không thấy điều đó sẽ rơi vào q.niệm DV tầm thường và bệnh bảo thủ trì trệ trong NT và hành động.
    . Nói tới vai trò của YT là nói tới vai rò của con ng, bởi tự bản thân YT không thể th đổi hiện thực mà chỉ có thể t/q
    con ng, cụ thể hơn là t/q hđ thực tiễn tác động vào hiện thực, con ng dựa trên tri thức của mình về TG k/q tiến hành hđ cải tạo hiện thực, thúc đẩy hiệ thực pt, tạo đk và mở đg cho hiện thực pt. Ngc lại nếu YT không p/a đúng hiện thực dẫn đến hđ thực tiễn kém h/quả, làm kìm hãm sự pt của hiện thực, con ng sẽ gặp thất bại trong v cải tạo hiện thực.
    . Nhờ có YT con ng có thể tìm ra các biện pháp thích hợp để tác động có h/quả vào hiện thực.
    . Nhờ có YT và sự nỗ lực của ý chí mà con ng có thể đạt đc mục đích đặt ra trong hoạt động thực tiễn.
    Ý nghĩa phương pháp luận.

    Tôn trọng tính khách quan của các quy luật, hành động theo quy luật khách quan; khắc phục bệnh chủ quan, duy ý chí.
    Phát huy vai trò tích cực của ý thức, phát huy tính năng động chủ quan; khắc phục bệnh thụ động, ỷ lại, bảo
    thủ, trì trệ.
    Câu 5:
    Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến? Ý nghĩa?
    Định nghĩa mối liên hệ: Là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của 1 sự vật, của 1 hiện tượng trong thế giới.
    Tính chất: Sự liên hệ giữa cái này với cái kia phải là tiền đề cho nhau- quy định cho nhau. Có tính ràng buộc. Có tính xâm nhập vào nhau. Tính chuyển hóa.
    Định nghĩa mối liên hệ phổ biến: là khái niệm dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại phổ biến ở nhiều sự vật, hiện tượng trong thế giới.
    Tính chất:
    + Tính khách quan: mối liên hệ mang tính khách quan vì đó chính là cái vốn có của mọi sự vật, hiện tượng. Chẳng hạn, các vật vô tri, vô giác cũng chịu sự tác động của các sự vật hiện tượng khác (ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm,... đôi khi cũng chịu sự tác động của con người). và con người cũng luôn bị tác động bởi các sự vật, hiện tượng khác và các yếu tố ngay trong chính bản thân.
    + Tính phổ biến:
    Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật, hiện tượng khác, không có sự vật, hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ. Ví dụ: các quốc gia trên thế giới hiện nay đều có mối liên hệ với các quốc gia khác về mọi mặt của đời sống xã hội.
    Mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt, cụ thể tùy theo điều kiện nhất định.
    + Tính đa dạng: khi nghiên cứu hiện thực khách quan, mối liên hệ phổ biến được chia thành nhiều loại khác nhau.
    - Phân loại:
    + Mối liên hệ cơ bản và không cơ bản.
    + Mối liên hệ:
    Bên trong: là sự tác động qua lại, sự quy định, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt của 1 sự vật.
    Bên ngoài: là mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng.
    + Mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp.
    + Mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu.
    + Mối liên hệ chung và riêng.
    + Mối liên hệ bản chất và không bản chất.
    + Mối lên hệ tất nhiên và ngẫu nhiên...
    Sự phân loại sự vật, hiện tượng thành các loại khác nhau chỉ có ý nghĩa tương đối vì mỗi loại liên hệ chỉ là 1 hình thức, 1 bộ phận, 1 mắt khâu của mối liên hệ chung và mỗi loại mối liên hệ lại có vai trò riêng.
    *) Ý nghĩa (là nguyên tắc ứng xử của chủ thể làm sao chi phù hợp với khách thể):
    - Qđ toàn diện: là những vấn đề trụ cột nhất, bản chất nhất, cốt lõi nhất, quan trọng nhất, cơ bản nhất của sự vật. Nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta khi phân tích sự vật phải đặt nó trong mối liên hệ với sự vật hiện tượng khác, phải xem xét tất cả các mặt, các yếu tố, kể cả các mắt khâu trung gian, gián đoạn của chúng. Nó còn đối lập và loại bỏ chủ nghĩa triết chung (trên thực tế là sự kết hợp vô nguyên tắc nhiều mặt, yếu tố trái ngược nhau) và thuật ngụy biện (là lối lập luận chủ quan, đem những mối liên hệ không cơ bản làm cơ bản, đem những mối liên hệ thứ yếu thay cho chủ yếu).
    Câu 6:
    Nguyên lý về sự phát triển? Ý nghĩa?
    *) Nguyên lý:
    Trong q/đ DVBC thì phát triển là 1 phạm trù triết học (TH) dùng để chỉ khái quát quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém phát triển đến ngày càng hoàn thiện hơn.
    Theo qđ đó, phát triển là 1 hình thức của sự vận động. Vận động là mọi sự biến đổi nói chung, không kể đến tính
    chất, khuynh hướng và kết quả. Vận động có thể theo 2 hướng: tiêu cực, tích cực (chính là hình thức của sự pt- là 1 trường hợp đặc biệt).
    + Theo Qđ DVBC, ng.gốc của sự pt nằm ngay trong bản thân sv, do >< của sv quy định, pt trong qđ DVBC, là qtr tự thân của mọi sv và hiện tg. Do vậy, pt là 1 qúa trình khách quan, độc lập với ý thức con ng.
    + Theo Qđ DVBC về sự pt ko chỉ thừa nhận tính khách quan của sự pt, nó còn khảng định tính phổ biến của sự pt diễn ra ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, XH, tư duy,...; mọi sv- ht.
    + Tính đa dạng, phong phú: vì mỗi sự vật- hiện tượng có quá trình phát triển không giống nhau về: không gian, thời gian, cách thức, điều kiện khách quan,...
    Tóm lại, theo Lênin pt là 1 trường hợp đặc biệt của vận động, sự phát triển coi là khuynh hướng chung, thống trị của mọi sự vận động. Trong hiện thực khách quan, tùy theo những hình thức tồn tại cụ thể của vật chất ở những lĩnh vực
    khác nhau mà sự phát triển được thể hiện theo những cách khác nhau. Ví dụ: các chất vô cơ (thường biến đổi về lượng) khác các chất hữu cơ (biến đổi về chất). Sự phát triển theo qđ biện chứng phải tuân theo ngtắc của quá trình
    thay đổi lượng dẫn đến sự thay đổi về chất của quá trình phủ định của phủ định và quá trình thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập biểu hiện nguồn gốc độc lập của sự vận động.
    *) Ý nghĩa:
    *Nguyên tắc phát triển trong nhận thức và thực tiễn
    Nghiên cứu về sự phát triển giúp cta nhận thức được rằng muốn nắm được bản chất của sự vật hiện tượng, nắm được khuynh hướng vận động, phải có những quan điểm tiến bộ, khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ.
    Quan điểm đó là:
    Yêu cầu chúng ta, khi phân tích sự vật- hiện tượng phải đặt nó trong sự vận động phát hiện ra được xu hướng biến đổi của chúng.
    Hoàn toàn đối lập với quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến.
    Đòi hỏi không chỉ thấy sự vật như là cái đang có, mà còn phải nắm được khuynh hướng phát triển của tương lai.
    Giúp chúng ta có thái độ lạc quan vào sự nghiệp cách mạng.
    -> Sự phát triển của sự vật trong thực tế là quá trình đầy mâu thuẫn nên khi vận dụng quan điểm phát triển vào nhận thức đòi hỏi chúng ta phải linh hoạt, mềm dẻo.
    Nguyên tắc lịch sử - cụ thể trong nhận thức và thực tiễn: - Xem xét sv, hiện tượng trong không gian, thời gian,
    đièu kiện hoàn cảnh cụ thể; khi đánh giá sv, ht cần đặt trong điều kiện lịch sử - cụ thể;
    Câu 7: Q.luật Lượng – Chất? Ý nghĩa?
    Quy luật này chỉ ra cách thức vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.
    Chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan của sự vật, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ không phải là cái khác.
    Đặc điểm:
    + Chất có tính khách quan:
    Chất gắn với 1 sv nhất định.
    Chất gắn với các qđịnh vốn có (giúp pbiệt vật này với vật khác). Ví dụ: Vàng có đặc điểm: màu vàng, dẻo, ít hao mòn trong tự nhiên.
    + Chất ko tồn tại thuần túy, chỉ sv có chất mới tồn tại.
    + Mỗi sv- ht đều có nhiều thuộc tính, mỗi thuộc tính lại biểu hiện 1 chất của sự vật. Tổng hợp chất của nhiều thuộc tính đó tạo thành chất của sự vật.
    + Chất ko chỉ đc xđịnh bởi các ytố cấu thành mà còn đc xđịnh bởi cấu trúc, phương thức liên kết giữa các ytố cấu thành sv đó.
    Ví dụ: Kim cương và than chì có cùng thành phần hóa học là các bon, nhưng do phương pháp liên kết khác nhau vì thế chất của chúng hoàn toàn khác nhau-> kim cương là chất cứng còn than chì là chất mềm.
    Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ quy định vốn có của sự vật về mặt số lượng, quy mô, trình đô, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính của sự vật.
    Đặc điểm:
    + Lượng mang tính khách quan:
    Lượng của sv ko phụ thuộc vào ý thức, ý chí của con người.
    Lượng tồn tại cùng với chất của sv.
    + Lượng của sự vật biểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm.
    + Lượng thường được xác định bởi những đơn vị đo lường cụ thể (VD: xđịnh vận tốc ánh sáng). Ngoài ra, lượng còn
    được xđịnh bằng định tính (trừu tượng và khái quát). VD: xđịnh trình độ NT khoa học của con người.
    *) Mối liên hệ biện chứng:
    Lượng và chất tồn tại có qhệ hữu cơ và thống nhất với nhau trong 1 sv. Ko có sv nào chỉ có chất hoặc lượng thuần túy.
    + Sự thay đổi về lượng và về chất của sv đều cùng với sự vận động và pt của sv. Nhưng sự thay đổi có quan hệ chặt chẽ với nhau chứ ko tách rời nhau.
    + Sự thay đổi về lượng của sv có ảnh hưởng tới sự thay đổi về chất của nó và ngược lại.
    Từ sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất;
    + Ở 1 giới hạn nhất định khi lượng của sv thay đổi nhưng chất của sv chưa thay đổi, được gọi là độ.
    “độ”: là phạm trù TH dùng để chỉ khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi về lượng của sv chưa làm thay đổi căn bản chất của sv.
    VD: Nung 1 thỏi thép trong lò, n.độ là 1000c có khi lên đến 10000c song thép vẫn ở trạng thái rắn chứ chưa chuyển
    sang lỏng. Trong độ sv vẫn là nó chứ chưa biến thành cái khác.
    + Những giới hạn mà tại đó sự thay đổi về L sẽ làm thay đổi C của sv đc gọi là điểm nút.
    “Điểm nút”: là phạm trù triết học dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng đã đủ làm thay đổi về chất của sự vật.
    (VD: Với nhiệt độ giới hạn từ 00-< 1000c nước nguyên chất vẫn đang ở trạng thái lỏng: Nếu nhiệt độ giảm xuống dưới 00c -> rắn.
    Từ 1000c trở lên nước chuyển sang trạng thái hơi. Tại các giới hạn như 00,1000 gọi là điểm nút)
    + Sự thay đổi về C do những thay đổi về L trc đó gây ra gọi là bước nhảy. Nói cách khác “Bước nhảy”: là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của sv do sự thay đổi về lượng của sv trước đó gây ra
    Chất mới ra đời thiết lập 1 sv với sự thống nhất mới giữa L và C mới ở trình độ cao hơn. Chất mới mở đường cho sự pt của vật ở mức độ nhanh hơn. Sau khi ra đời C mới tác động sự thay đổi của L.
    VD: s.viên ra trường vượt qua điểm nút là kỳ thi tốt nghiệp cũng là thực hiện b/nhảy s.viên sẽ được nhận bằng cử nhân. Sviên có trình độ NT cao hơn (đó chính là sự thay đổi về kết cấu quy mô, trình độ nhận thức).
    *) Ý nghĩa:
    Về mặt nhận thức:
    + Từ sự thống nhất giữa C và L nên muốn có tri thức đầy đủ về sv cần phải NT cả mặt C và L.
    + Nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa C và L để hiểu đúng vị trí, vai trò của từng yếu tố trong sự phát triển của sv. Qua đó, hiểu rõ các cách thức, sự vận động và pt của sv.
    - Về mặt thực tiễn:
    + Từ sự NT đúng đắn mqh BC giữa L và C, trong hoạt động thực tiễn biết kịp thời chuyển từ những thay đổi về L về sự thay đổi về C. Từ sự thay đổi mag tính chất tiện tiến sang những thay đổi mang tính chất cách mạng.
    + Biết vận dụng linh hoạt các hình thức bước nhảy, biết pt các điều kiện k/q, chủ quan, để tùy từng trường hợp cụ thể sẽ lựa chọn bước nhảy phù hợp.
    + Trong hoạt động thực tiễn cần tránh 2 khuynh hướng tả khuynh (đốt cháy giai đoạn, không chú ý đến sự biến đổi dần về L) và hữu khuynh (chỉ quan tâm đến sự thay đổi về L mà ko quan tâm đến sự thay đổi về C).
    Câu 8: Q.luật mâu thuẫn (><)? Ý nghĩa?
    Bằng v kế thừa những thành quả tư tưởng BC về ><, bằng v tổng kết từ thực tế l.sử loài ng, các nhà kinh điển của CN M đã cho rằng cta phải tìm xung lực v.động và pt của sv trong chính sv đó, trong những >< của bản thân sv. Qđ lý luận đó đc thể hiện trong q.luật thống nhất và đtr của các mặt đối lập.
    ND CB của q.luật thống nhất và đtr của các mặt đối lập. đc làm sáng tỏ thông qua 1 loạt những cặp phạm trù CB: “mặt đối lập”, “sự thống nhất”, và “đtr của các mặt đối lập”
    *) Nội dung quy luật:
    Khái niệm:
    + Mặt đối lập: là những mặt có những đ.điểm, những thuộc tính, những qđịnh có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại 1 cách k/quan trong tự nhiên, XH và tư duy.
    + Mâu thuẫn BC: là do các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ tác động qua lại lẫn nhau tạo thành.
    + Sự thống nhất của các mặt đối lập: là sự nương tựa lẫn nhau, tồn tại không tách rời nhau giữa các mặt đối l
     
    Gửi ý kiến